Trang

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2012

CHƯƠNG HAI

PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY 

21. Giáo chủ Phaolô VI có một cái nhìn phân biệt về phát triển. Ngài dùng khái niệm „phát triển“ như là mục tiêu các dân tộc hướng tới để trước hết vượt qua nghèo đói, bần cùng, tật bệnh địa phương và mù chữ. Trên bình diện kinh tế, phát triển như vậy có nghĩa là sự tham dự tích cực và đồng đẳng của các dân tộc vào tiến trình kinh tế toàn cầu. Về mặt xã hội, phát triển có nghĩa là tiến tới những xã hội có giáo dục và đoàn kết. Về mặt chính trị, đó là quá trình củng cố chế độ dân chủ, hầu bảo đảm cho tự do và hoà bình. Sau bao nhiêu năm âu lo quan sát những phát triển và khủng hoảng nối tiếp nhau, chúng ta giờ đây phải tự hỏi, mô hình phát triển của nhiều thập niên qua đã đáp ứng được những kì vọng của giáo chủ Phaolô VI tới mức nào? Và chúng ta thấy rằng, nỗi âu lo của Giáo hội là có cơ sở: Giáo hội âu lo con người hôm nay với lối suy nghĩ thuần kĩ thuật không đủ khả năng đề ra cho mình những mục tiêu thực tế và sử dụng đúng đắn những phương tiện sẵn có của họ. Lợi tức chỉ hữu ích, khi nó là phương tiện để đạt tới cứu cánh, và cứu cánh này phải là thứ đáng để vươn tới và nó phải được sử dụng cách có í nghĩa. Nếu chỉ nhắm chuyện kiếm lời bằng mọi cách kể cả cách bất chính, và kết quả của lợi tức đó không phục vụ cho công ích, thì sẽ có nguy cơ phá hoại tài sản và tạo ra nghèo đói. Mô hình phát triển kinh tế của giáo chủ Phaolô VI là làm sao tạo ra được một phát triển thực sự, bền vững và đưa đến lợi ích cho mọi người. Đúng, phát triển đã là một yếu tố tích cực; nó đã và đang giúp cho hàng tỉ người thoát khỏi cảnh bần cùng, và thời gian gần đây nó đã giúp cho nhiều quốc gia trở thành những đối tác hữu hiệu trong chính trị quốc tế. Nhưng cũng phải nhận rằng, phát triển kinh tế này đã và đang chất chứa nhiều dị dạng và vấn nạn bi thảm, mà cuộc khủng hoảng hiện tại càng cho thấy rõ thêm sự nổi cộm của chúng. Điều này khiến ta không thể chần chờ được nữa, mà phải hành động ngay để giải quyết những vấn nạn vốn luôn gắn liền với chính thân phận và bản chất con người. Những nguồn lực kĩ thuật đang được sử dụng, các tương quan quốc tế, những hậu quả xấu của một sinh hoạt tài chánh không thích hợp và mang tính đầu cơ đối với nền kinh tế hiện thực, những cuộc di dân thường được tạo ra nhưng rồi đã không được điều tiết cách đúng đắn, những khai thác vô tội vạ các nguồn tài nguyên thiên nhiên – tất cả những điều đó buộc chúng ta hôm nay phải nghĩ đến những biện pháp cần thiết để giải quyết chúng. Đây là những vấn nạn không những mới so với thời giáo chủ Phaolô VI, nhưng chúng còn có ảnh hưởng quyết định cho hạnh phúc hiện tại và tương lai của nhân loại. Các khía cạnh của khủng hoảng và các lối ra của nó cũng như bước đường phát triển trong tương lai càng ngày càng quyện lẫn vào nhau, tuỳ thuộc vào nhau, chúng đòi hỏi nhiều nỗ lực mới để có một đồng thuận chung và một tổng hợp nhân bản mới. Cuộc khủng hoảng kinh tế phức tạp và gia trọng hiện nay làm chúng ta âu lo. Nhưng chúng ta phải thực tế đón nhận những trọng trách mới trong tin tưởng và hi vọng, vì với những trọng trách này, chúng ta sẽ mở ra một thế giới với một nền văn hoá hoàn toàn mới gắn liền với sự tái khám phá ra các giá trị căn bản làm nền cho một tương lai sáng lạn hơn. Khủng hoảng buộc chúng ta phải đổi mới hướng đi của mình, đặt ra cho mình những luật lệ mới và tìm ra những lối dấn thân mới, hướng về những kinh nghiệm tích cực và loại bỏ đi những kinh nghiệm xấu. Như vậy, khủng hoảng là cơ hội để ta quyết định và lập chương trình mới. Và những khó khăn hiện tại do đó sẽ được chúng ta đối diện và giải quyết với thái độ tự tin, chứ không phải chỉ miễn cưỡng chấp nhận chúng. 

22. Khung cảnh phát triển trong thời đại ngày nay mang tính đa tâm. Diễn viên và nguyên nhân của kém phát triển cũng như của phát triển không còn chỉ có một, công và tội cũng không chỉ có một. Sự kiện này lẽ ra thúc đẩy ta phải tự giải thoát ra khỏi những í thức hệ vốn hay đơn giản hoá thực tại một cách giả tạo. Nó còn nhắc nhở ta khách quan xét lại chiều kích con người trong vấn đề phát triển. Đường ranh giữa các nước giàu và nghèo không còn rõ ràng như thời thông điệp Populorum progressio; điểm này trước đây cũng đã được giáo chủ Gioan Phaolô II nói tới[55]. Nhìn chung, của cải thế giới có tăng, nhưng bất bình đẳng cũng mở rộng. Nhiều giai cấp xã hội nghèo nẩy sinh trong các nước giàu, và xã hội cũng xuất hiện thêm nhiều hình thức nghèo mới. Trong những vùng nghèo hơn, có những nhóm cực giàu tiêu pha phung phí nổi lên một cách không thể chấp nhận được giữa cảnh bần cùng bất nhân. “Tiếng thét của bất công”[56] không ngừng vang vọng. Không chỉ trong các nước giàu cũ và mới, mà chính trong các quốc gia nghèo, cũng dẫy đầy tham những và lối làm ăn bất chính nơi các đại biểu kinh tế và chính trị. Nhân quyền của người lao động không những bị vi phạm bởi một số đại công ty liên quốc gia, mà cả do những nhóm sản xuất nhỏ của địa phương. Nhiều giúp đỡ quốc tế rơi vào túi riêng, thường là vì lề lối làm việc vô trách nhiệm của các nước cho lẫn các nước nhận. Tình trạng này cũng xẩy ra trong lĩnh vực các nguyên nhân phát triển và kém phát triển về mặt phi vật chất hay vật chất. Có những hình thức quá lạm nơi các nước giàu về việc bảo vệ tri thức và sử dụng quyền sở hữu trí tuệ quá chặt, đặc biệt trong lĩnh vực i khoa. Đồng thời, nơi một số nước nghèo vẫn còn những mẫu mực văn hoá và hành xử xã hội làm cản trở tiến trình phát triển. 

23. Ngày nay, có nhiều vùng trên trái đất đã đạt được những bước tiến, dù còn thất thường và chưa đồng bộ, và đã ngồi vào được chung bàn với các thế lực lớn để có thể nắm những vai trò quan trọng trong tương lai. Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng, chỉ tiến bộ về mặt kinh tế và kĩ thuật không thôi thì chưa đủ. Tiên vàn phát triển phải là thật và toàn diện. Thoát được ra khỏi vòng nghèo đói kinh tế tự nó là một bước tích cực, nhưng điều này vẫn chưa giải quyết được vấn nạn nhiêu khê về mặt thăng tiến con người. Không những các nước còn nghèo, mà cả những nước mới giàu lên hay những nước đã phát triển kinh tế từ lâu cũng chưa giải quyết được vấn đề thăng tiến con người. Ngoài ra, các nước nghèo không chỉ bị xâu xé bởi những hình thức bóc lột hiện hành, mà còn có thể bị xáo trộn bởi hậu quả của một phát triển bất quân bình và méo mó. 

Sau khi hệ thống kinh tế và chính trị của các nước Đông Âu sụp đổ và các “khối thù nghịch” biến mất, lẽ ra đó là dịp để ta suy nghĩ lại toàn bộ vấn đề phát triển. Giáo chủ Gioan Phaolô II đã yêu cầu chuyện này vào năm 1987, khi ngài cho rằng, sự hiện diện của các “khối” là một trong những nguyên nhân chính tạo ra tình trạng kém phát triển[57], bởi lẽ chính trị đã chiếm hết tiền dành cho kinh tế và văn hoá và í thức hệ đã ngăn cản tự do. Năm 1991, sau những biến cố của năm 1989, ngài cũng yêu cầu phải hoạch định lại vấn đề phát triển sao cho phù hợp với tình trạng thế giới mới: Không những tái hoạch định cho phần đất Đông Âu, mà cả cho phương tây và cho những phần đất thế giới đang phát triển nữa[58]. Yêu cầu đó mới được thực hiện chỉ có một phần. Chúng ta cần phải tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ này, và biết đâu nó sẽ giúp ta thắng vượt được những khủng hoảng kinh tế hiện hành. 

24. Trước đây, do sự tiến triển của tiến trình xã hội hoá, chúng ta đã có thể nói, vấn đề xã hội đã trở thành một vấn đề chung cho toàn cầu. Tuy nhiên, thế giới thời giáo chủ Phaolô VI chưa lệ thuộc nhau như thời nay ta đang sống. Hoạt động kinh tế và sinh hoạt chính trị trước đây đa phần còn diễn ra trong cùng một vùng không gian và vì thế có thể dựa vào và tin tưởng lẫn nhau. Sinh hoạt sản xuất chủ yếu diễn ra trong biên giới quốc gia, và đầu tư tài chánh ra nước ngoài còn ở mức độ hạn hẹp. Vì thế chính quyền của nhiều quốc gia lúc đó còn có khả năng xác định được các ưu tiên kinh kế và còn vận dụng được các phương tiện sẵn có để có thể điều tiết được diễn tiến kinh tế của mình trong mức độ nào đó. Do đó “quyền lực nhà nước”[59] còn đượcPopulorum progressio gán cho một vai trò chính yếu, nếu không nói là vai trò độc nhất. 

Ngày nay, nhà nước phải đối diện với một hoàn cảnh quốc tế mới, trong đó có sự giao lưu kinh tế, thương mại và tài chánh toàn cầu với đà chu chuyển ngày càng tăng của tư bản tài chính và các phương tiện sản xuất vật chất lẫn phi vật chất. Hoàn cảnh này đã hạn chế chủ quyền quốc gia và làm thay đổi quyền lực chính trị của nhà nước. 

Ngày nay – một phần cũng do bài học khủng hoảng kinh tế hiện thời buộc chính quyền phải trực tiếp điều chỉnh lại những lầm lỗi và đường lối kinh tế sai lầm – ta có quyền hi vọng vào một sự xác định mới và thực tế hơn về vai trò và quyền lực quốc gia. Cả hai yếu tố này phải được suy nghĩ và đánh giá lại một cách khôn ngoan, để nhờ đó, cho dù giờ đây phải vận dụng quyền hành một cách mới, nhà nước có thể đối đầu được với các thách đố của thế giới hiện tại. Với một vai trò hài hoà hơn của quyền lực nhà nước, người ta hi vọng các tổ chức xã hội dân sự sẽ hình thành nên được những hình thức tham gia chính trị quốc gia và quốc tế mạnh mẽ hơn. Hi vọng với chiều hướng này, các công dân sẽ quan tâm và hăng hái tham gia hơn vào việc chính sự (res publica). 

25. Nhìn từ mặt xã hội, các tổ chức bảo trợ và chăm sóc xã hội đã có từ thời giáo chủ Phaolô VI nơi một số quốc gia hẳn sẽ gặp khó khăn – có thể trong tương lai sẽ khó khăn hơn – trong hoạt động nhằm kiến tạo công bằng xã hội thật sự, vì phải đối diện với một khung cảnh kinh tế đã hoàn toàn đổi khác. Thị trường toàn cầu hoá đặc biệt thôi thúc các nước giàu chuyển các nhà máy hay công ti của họ sang những vùng có giá thành sản xuất rẻ, với mục đích hạ giá thành sản phẩm để gia tăng sức mua, nhờ đó đẩy mạnh lượng tiêu thụ và tăng gia mức phát triển cho thị trường nội địa của họ. Hậu quả là thị trường tạo ra những hình thái cạnh tranh mới. Bằng đủ loại phương tiện, chẳng hạn như giảm thuế hay chuyển dời lao động, một số quốc gia tìm cách lôi kéo các trung tâm sản xuất ngoại quốc vào nước mình. Những diễn tiến này khiến người ta hạn chế mạng lưới an sinh xã hội để tìm cách mở rộng lợi thế cạnh tranh trên thị trường thế giới. Quyền lợi của người lao động, các nhân quyền căn bản cũng như những thành quả liên đới đã đạt được trong các nhà nước phúc lợi truyền thống do đó bị đe doạ trầm trọng. Các hệ thống an sinh xã hội của những nước nghèo hoặc đang phát triển, ngay cả của những nước đã phát triển từ lâu, có nguy cơ mất đi khả năng hoàn thành nhiệm vụ của chúng. Các chi phí xã hội có thể bị gạch hẳn ra khỏi dự chi ngân sách quốc gia; không ít khi việc chiết giảm ngân sách này cũng là do đề nghị của các định chế tài chánh quốc tế. Và người dân vì vậy bị đẩy vào những nguy cơ vừa cũ vừa mới mà không làm gì được. Nỗi bất lực này lại còn tăng vì không có được sự bảo vệ của những tổ chức hữu hiệu của người lao động. Toàn bộ các biến đổi kinh tế và xã hội đó tạo ra những khó khăn lớn cho các công đoàn trong việc thi hành nhiệm vụ, là vì ngay chính các chính quyền nhiều khi cũng vì cái lợi kinh tế mà hạn chế tự do của công đoàn hoặc giới hạn khả năng đàm phán của họ. Như vậy, các mạng lưới liên đới truyền thống ngày nay lại phải đối đầu với thêm nhiều trở ngại mới ngày càng tăng. Ngày nay, hơn lúc nào hết, chúng ta cần quan tâm hơn nữa trong việc thành lập các tổ chức bảo vệ người lao động đã được đề nghị bởi Rerum novarum[60] và các thông điệp xã hội sau đó. Cần phải đáp ứng tính thế cách tức thời và với viễn kiến, bằng cách tạo ra những hình thái tổ chức sinh hoạt chung mới không chỉ ở cấp địa phương mà còn cả ở cấp quốc tế. 

Việc di chuyển công ăn việc làm, diễn ra do tiến trình tái phối trí lao động lớn rộng, là một hiện tượng quan trọng và không phải là không mang lại hiệu quả tích cực. Nó tạo nên những tải sản mới và thúc đẩy sự tương tác giữa các văn hoá khác nhau. Nhưng khi bất ổn về điều kiện làm việc do hậu quả của sự di dời và điều tiết lao động trở nên mạnh mẽ, thì nhiều hình thái bất ổn tâm lí sẽ xuất hiện; người ta sẽ gặp khó khăn trong việc đặt kế hoạch cho cuộc sống riêng tư, kể cả việc lập gia đình. Hậu quả: không những các nguồn lực xã hội bị phí phạm, mà con người cũng bị tha hoá. Nếu so sánh điều này với những gì đã xẩy ra trong quá khứ nơi các xã hội kĩ nghệ, ta sẽ thấy là vấn đề thất nghiệp ngày nay kéo theo những khía cạnh mới về sự vô nghĩa của kinh tế, và cuộc khủng hoảng hiện tại càng làm cho tình trạng này thêm bi đát. Một khi bị thất nghiệp lâu dài hay bị lệ thuộc quá lâu vào sự giúp đỡ của cá nhân hoặc tập thể, con người sẽ mất đi tự do, hết sáng kiến, và liên hệ gia đình cũng như xã hội của họ cũng mất luôn; những cái mất đó sẽ kéo theo các đau khổ gia trọng về mặt tâm lí và tinh thần. Tôi muốn nhắc nhở tất cả những ai, đặc biệt các nhà cầm quyền, có trách nhiệm tái tạo trật tự kinh tế và xã hội thế giới, rằng con người là lực lượng tư bản đầu tiên cần phải bảo vệ và sử dụng, chính con người toàn diện “là tác giả, tâm điểm và là cùng đích của mọi kinh tế”[61]. 

26. Về mặt văn hoá, sự khác biệt so với thời giáo chủ Phaolô VI còn rõ nét hơn. Trước đây, các nền văn hoá xem ra còn có những nét đặc thù riêng và còn ít nguy cơ bị đồng dạng hoá. Ngày nay, khả năng giao tiếp giữa các nền văn hoá ngày càng tăng, mở ra không gian và viễn tượng mới cho đối thoại liên văn hoá. Cuộc đối thoại này, để có được kết quả tốt, đòi hỏi các đối tác trước hết phải í thức sâu xa căn cước riêng của văn hoá mình. Nhưng ở đây chúng ta đừng quên rằng, việc trao đổi văn hoá ngày càng bị thương mại hoá hàm chứa một nguy cơ kép: Thứ nhất là thái độ nhắm mắt cóp nhặt văn hoá: Người ta đơn giản xếp các văn hoá bên cạnh nhau, đại để coi chúng ngang hàng với nhau và có thể hoán chuyển cho nhau. Điều này dẫn tới một sự tương đối hoá chẳng giúp gì nhiều cho cuộc đối thoại văn hoá đích thật. Trên bình diện xã hội, sự tương đối hoá văn hoá tạo ra cảnh sống biệt lập bên nhau của nhiều nhóm văn hoá khác nhau, và như vậy chẳng có được sự hội nhập thật sự. Cơ nguy ngược lại thứ hai nằm nơi sự cào bằng văn hoá và nơi việc thống nhất hoá thái cử và lối sống. Các quốc gia đánh mất í nghĩa sâu xa của văn hoá mình và các dân tộc đánh mất đi những truyền thống riêng tư, nghĩa là đánh mất đi nền tảng quy chiếu các giá trị cuộc sống[62]. Cóp nhặt văn hoá và cào bằng văn hoá đưa tới hậu quả là văn hoá bị tách ra khỏi bản chất tự nhiên của con người. Như vậy, các văn hoá không còn gặp được kích thước của chúng trong một thế giới siêu việt[63], và vì thế con người rốt cuộc chỉ còn được xem như là một hiện tượng văn hoá. Một khi điều này xảy ra, nhân loại sẽ rơi vào những nguy cơ bị sai khiến và lạm dụng mới. 

27. Trong nhiều quốc gia nghèo, nạn thiếu lương thực làm cho cuộc sống trở nên vô cùng bất an, và tình cảnh này có nguy cơ ngày càng gay gắt thêm: Nạn đói không ngừng cuốn đi vô số nạn nhân, trong số đó không biết bao nhiêu là “Ladarô” đã – trái với lòng mong ước của giáo chủ Phaolô VI[64] – không được ngồi chung bàn với người giàu có. Cho kẻ đói ăn (xem Mat 25,35.37.42) là một mệnh lệnh đạo đức đối với Giáo hội hoàn vũ; Giáo hội phải đáp ứng lời dạy về liên đới và chia sẻ của vị sáng lập ra mình là đức Giêsu Kitô. Hơn nữa, để có thể giữ được hoà bình và ổn định địa cầu, thế giới toàn cầu hoá ngày nay đã đưa việc loại trừ nạn đói lên thành một tiêu đích phải đạt cho kì được. Đói không hẳn là vì thiếu thốn vật chất, mà đúng hơn, vì thiếu các nguồn tài nguyên xã hội, trong đó nguồn quan trọng nhất mang tính định chế. Nghĩa là thiếu những định chế kinh tế có khả năng bảo đảm nguồn nước và thực phẩm cũng như cấp thời giải quyết những nhu cầu căn bản xẩy ra do các cuộc khủng hoảng lương thực thực phẩm thực sự – những khủng hoảng do thiên tai hoặc do hành động vô trách nhiệm chính trị của quốc gia hay quốc tế tạo ra. Vấn đề bất an trên lãnh vực lương thực thực phẩm phải được giải quyết bằng một viễn tượng lâu dài, bằng cách loại trừ các nguyên nhân cơ cấu của nó và tài trợ cho việc phát triển canh nông trong các nước nghèo. Điều này có thể thực hiện qua đầu tư vào cơ cấu hạ tầng nông nghiệp, vào các hệ thống tưới tiêu, chuyên chở, tổ chức thị trường, giáo dục và phổ biến các kĩ thuật nông nghiệp phù hợp – nghĩa là qua các đầu tư thích hợp vừa đáp ứng cấp thời vừa mang tính bền vững lâu dài, để giúp kẻ thụ hưởng sử dụng cách tốt nhất các nguồn tài nguyên nhân sự, thiên nhiên và kinh tế xã hội sẵn có tại địa phương. Khi thực hiện những điều đó, phải để cho cộng đồng địa phương tham gia trong việc chọn lựa đất đai và cùng quyết định về việc sử dụng. Từ cái nhìn này, tốt nhất là làm sao kết hợp được các kĩ thuật sản xuất nông nghiệp truyền thống sẵn có và những gì tân tiến ngoại nhập, với điều kiện là những kĩ thuật tân tiến phải phù hợp, không hại cho môi sinh và được đa số nhóm dân thụ hưởng nhận ra sự ích lợi của chúng. Đồng thời cũng không nên sao nhãng việc cải cách nông nghiệp trong các nước đang phát triển. Quyền được có thực phẩm và nước uống đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn tới việc sở hữu những quyền khác, khởi đầu trước hết với quyền sống căn bản. Vì thế, thế giới cần có một í thức liên đới sâu rộng nhằm công nhận việc sở hữu lương thực và nguồn nước là quyền căn bản của mọi người, không phân biệt ai mà cũng chẳng miệt thị dân tộc nào[65]. Ngoài ra cũng cần phải xác định rõ rằng, con đường liên đới với các nước nghèo cũng có thể là một kế hoạch nhằm giải quyết cơn khủng hoảng toàn cầu hiện nay. Điều này các nhà chính trị và những kẻ trách nhiệm của các định chế quốc tế mới đây cũng đã hiểu ra. Khi các nước giàu liên đới đưa ra những chương trình hỗ trợ tài chánh cho các nước nghèo về mặt kinh tế, để dân chúng các nước này thoả mãn được nhu cầu tiêu dùng và phát triển, lúc đó các nước nghèo không những đạt được những phát triển thật sự, mà còn qua đó giúp cho các nước giàu giữ vững được khả năng sản xuất, để họ tránh khỏi nguy cơ bị cuốn vào cuộc khủng hoảng. 

28. Một trong những khía cạnh đặc trưng nhất của cuộc phát triển ngày nay là tầm quan trọng của đề tài bảo vệ sự sống, đề tài này không thể nào tách khỏi chuyện phát triển các dân tộc được. Đây là một khía cạnh mà thời gian qua càng ngày mang tầm í nghĩa lớn. Và nó đòi buộc chúng ta phải nối vấn đề chấp nhận sự sống, đặc biệt ở những nơi bị cản trở bằng nhiều cách, vào với các khái niệm nghèo đói[66] và kém phát triển. 

Không những tình trạng nghèo đói tạo ra mức tử trẻ em cao nơi một số vùng đất thế giới, mà ở một số vùng khác nhiều chính quyền vẫn còn áp dụng chính sách hạn chế dân số; họ không những cho dùng các biện pháp tránh thai mà còn ra lệnh phá thai. Trong các nước kinh tế phát triển hơn, có nhiều đạo luật chống lại sự sống đã ảnh hưởng quyết định trên thói quen và thực tế đời sống; những đạo luật này góp phần tạo nên một tâm thức chống lại việc sinh sản; và người ta thường tìm cách xuất cảng nếp nghĩ này sang các nước khác, vì cho đó là một tiến bộ văn hoá. 

Một vài tổ chức phi chính phủ tích cực cộng tác vào việc phổ biến việc phá thai và đôi khi hỗ trợ cho các nước nghèo trong chủ trương triệt sản, ngay cả trên các phụ nữ chẳng hiểu gì về tầm quan trọng của sự việc. Ngoài ra, ta còn có lí do để nghi ngờ đôi khi chính viện trợ phát triển được nối vào những chính sách i tế cụ thể, trong đó đương nhiên bao gồm việc hạn chế sinh đẻ. Càng âu lo hơn nữa là những đạo luật mở đường cho việc trợ tử, được đưa ra dưới áp lực yêu sách của nhiều nhóm quốc gia và quốc tế. 

Chấp nhận sự sống là tâm điểm của sự phát triển đích thực. Khi một xã hội khước từ hay đàn áp sự sống, xã hội ấy rốt cuộc sẽ không còn có được những động năng và nguồn lực cần thiết để dấn thân cho hạnh phúc thật của con người. Khi cá nhân và xã hội không còn nhìn ra í nghĩa của việc chấp nhận sự sống, thì những hình thức chấp nhận khác có lợi cho cuộc sống xã hội cũng mất[67]. Việc chấp nhận sự sống tăng cường các lực đạo đức và làm cho con người có khả năng tương trợ lẫn nhau. Khi các dân tộc giàu chấp nhận sự sống, họ có thể hiểu hơn về nhu cầu của của các dân tộc nghèo, họ có thể tránh được chuyện phí phạm các nguồn lực kinh tế và trí tuệ cho việc thoả mãn nhu cầu ích kỉ của dân mình và, thay vào đó, hỗ trợ cho các công tác có lợi cho một sản xuất lành mạnh và liên đới về mặt đạo đức, trong sự kính trọng quyền sống nền tảng của mọi dân tộc, mọi con người. 

29. Còn một khía cạnh nữa của cuộc sống hôm nay gắn liền với phát triển: khước từ quyền tự do tôn giáo. Ở đây, tôi không những muốn nói tới các cuộc đấu tranh và xung đột mang lí do tôn giáo, dù rằng nhiều khi tôn giáo ở đây cũng chỉ là tấm bình phong cho những nguyên do khác như lòng tham quyền lực và của cải. Đúng là ngày nay vẫn thường có những cuộc chém giết nhân danh Thiên Chúa, như vị tiền nhiệm của tôi là Gioan Phaolô II và cả chính tôi đã nhiều lần công khai nói ra và phản đối[68]. Mọi thứ vũ lực đều kìm hãm phát triển và cản ngăn các dân tộc đạt tới hạnh phúc viên mãn hơn về mặt kinh tế xã hội và tri thức. Đặc biệt là chủ trương khủng bố xuất phát từ khuynh hướng bảo căn[69]; nó đưa tới đau khổ, phá hoại và chết chóc, chận đứng cuộc đối thoại giữa các quốc gia và lấy đi tiền của lẽ ra được dùng cho mục tiêu dân sự và hoà bình. Nhưng phải nói thêm, việc thực thi quyền tự do tôn giáo trên một vài bình diện không những bị cản trở bởi thái độ quá khích tôn giáo, nó còn bị nhiều quốc gia cản trở bằng cách chính quyền hỗ trợ cho vô thần thực hành hoặc cho việc vô tình với tôn giáo. Làm như thế là họ đi ngược lại các nhu cần phát triển của các dân tộc, vì họ lấy đi các gia sản tinh thần và nhân bản khỏi những dân tộc đó. Thiên Chúa là vị cầm cân nẩy mực cho sự phán triển đúng đắn của con người, bởi lẽ Thiên Chúa dựng nên họ theo hình ảnh của Người, khiến họ có được một phẩm giá siêu việt và Người không ngừng thúc đẩy họ luôn phải trở nên „nhiều hơn, người hơn“. Con người không phải là một nguyên tử lạc lỏng trong một vũ trụ tình cờ[70], nhưng là một tạo vật của Thiên Chúa, được nhận từ Người một linh hồn bất tử và được Người yêu thương từ đời đời. Nếu con người chỉ là kết quả của ngẫu nhiên hoặc tất yếu hay nếu họ phải đóng khung hướng vọng của mình vào chân trời hạn hẹp của hoàn cảnh sống mà thôi, nếu tất cả chỉ là lịch sử và văn hoá và con người có một bản tính không cho phép họ vươn lên một cuộc sống siêu nhiên, thì lúc đó ta có thể nói được rằng có tăng trưởng hoặc tiến hoá, nhưng chẳng có phát triển. Khi nhà nước hỗ trợ cho những hình thức vô thần thực hành, tuyên truyền hoặc ép buộc người dân theo vô thần, lúc đó họ lấy đi khỏi người dân nguồn lực đạo đức và tinh thần cần thiết cho sự phát triển con người toàn diện, và như vậy họ ngăn cản người dân trong việc hăng hái dấn thân bác ái để đáp trả lại tình yêu thiên chúa[71]. Cũng có trường hợp các nước đã và đang phát triển kinh tế, qua khuôn khổ các trao đổi chính trị, văn hoá và thương mại, đã xuất cảng sang các nước chưa phát triển cái quan niệm bất xứng kia về con người và số phần của họ. Đó là cái hại do tình trạng „quá phát triển“[72] gây ra cho sự phát triển đích thực, khi phát triển này phải đeo theo nó gánh nặng „chậm tiến đạo đức“[73

30. Trong chiều hướng đó, đề tài phát triển con người toàn diện còn có thêm một chiều kích bao quát hơn: Liên hệ giao thoa giữa các yếu tố đa dạng của nó đòi hỏi chúng ta phải cố gắng kết hợp các bình diện khác nhau của kiến thức con người hầu có thể tạo nên được một phát triển đích thực cho các dân tộc. Người ta thường cho rằng, phát triển cũng như những biện pháp kinh tế xã hội tương ứng chỉ là kết quả của một hành động chung. Tuy nhiên, hành động chung này phải được điều hướng, là vì „mọi hành động xã hội đều bắt nguồn từ một học thuyết“[74]. Như vậy, vì sự phức tạp của vấn đề, cần phải có sự phối hợp chung của nhiều khoa học khác nhau thông qua một nỗ lực mang tính liên ngành có tổ chức. Tình yêu không loại trừ kiến thức; ngược lại, nó còn đòi hỏi, hỗ trợ và tạo sống động cho kiến thức từ bên trong. Kiến thức không bao giờ là sản phẩm của một mình trí tuệ. Kiến thức có thể bị giản lược thành như một tính toán hay một thí nghiệm. Nhưng, nếu muốn trở nên minh triết để có thể định hướng con người theo ánh sáng của các nguyên tắc nền tảng và của các cùng đích con người, kiến thức phải được ướp với „muối“ tình yêu. Hành động sẽ thành mù quáng nếu không có kiến thức, và kiến thức sẽ vô sinh (steril) nếu không có tình yêu. Là vì „kẻ yêu thương thực sự (thì) sáng suốt trong việc khám phá các nguyên nhân của bần cùng, trong việc tìm ra các phương tiện để vượt thắng và tiêu diệt chúng“[75]. Đứng trước những hiện tượng phải giải quyết, tình yêu trong sự thật đặc biệt đòi hỏi phải có một nhận thức và thấu hiểu trong í thức và trong sự tôn trọng thẩm quyền đặc thù của mỗi bình diện kiến thức. Tình yêu không phải là thứ phụ thêm, hay là cái đuôi gắn vào thành quả đạt được của các ngành khác nhau, nhưng nó là yếu tố có mặt ngay từ đầu trong tương quan đối thoại với các thành quả đó. Các yêu sách của tình yêu không mâu thuẫn với yêu sách của lí trí. Kiến thức mà thôi thì không đủ, và các kết luận của khoa học không thôi cũng không thể chỉ ra con đường đưa đến phát triển con người toàn diện. Muốn có được phát triển toàn diện, tình yêu trong sự thật luôn đòi buộc con người phải có cái nhìn vượt lên cao hơn[76]. Nhưng ‚vượt lên cao hơn’ không bao giờ có nghĩa là nhắm mắt trước những kết luận của lí trí hay chống lại các thành quả của nó. Trí khôn và tình yêu không đơn giản đứng song hành bên nhau: Có thứ tình yêu giàu trí tuệ, mà cũng có thứ trí tuệ tràn đầy tình yêu. 

31. Điều đó có nghĩa là những đánh giá đạo đức phải được tiến hành song song với sự nghiên cứu khoa học, cả hai trộn lẫn với nhau trong một tổng thể liên ngành hài hoà vừa thống nhất vừa khác biệt và cả hai phải được đổ đầy sức sống bởi tình yêu. Giáo huấn xã hội của Giáo hội mang „một chiều kích liên ngành quan trọng“[77], do đó nó có thể đóng vai trò vô cùng hữu hiệu trong công tác trên. Nó cho phép đức tin, thần học, siêu hình học và các khoa học tìm được chỗ đứng của chúng trong công tác chung phục vụ con người. Ở đây, giáo huấn xã hội công giáo đặc biệt thể hiện được chiều kích mang tính minh triết của nó. Giáo chủ Phaolô VI đã nhận ra rằng, kém phát triển và nhiều tình trạng tương tự khác cũng phát sinh từ nguyên do thiếu khôn ngoan, thiếu suy tư và thiếu đầu óc có khả năng nghĩ ra được một tổng hợp hướng đạo[78]. Muốn đạt được tổng hợp này, cần phải có „một nhận thức rõ ràng về lãnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá và tinh thần“[79], Việc cường điệu phân chia tri thức ra thành nhiều lãnh vực chuyên môn[80], việc các khoa học nhân văn tẩy chay siêu hình học[81], những khó khăn đối thoại giữa các khoa học và thần học, tất cả những thứ đó không những cản ngăn sự phát triển của tri thức, mà còn làm hại bước tiến của các dân tộc, bởi vì như thế cái nhìn về hạnh phúc toàn diện của con người, một hạnh phúc vốn mang nhiều chiều kích khác nhau, trở nên méo mó. Chúng ta phải „mở rộng khái niệm lí trí và mở rộng việc sử dụng lí trí“[82], để có thể cân nhắc được hết các cấu tố của vấn đề phát triển cũng như của lời giải cho các vấn nạn kinh tế xã hội. 

32. Vấn đề phát triển các dân tộc ngày nay mang nhiều sắc thái mới, đòi hỏi chúng ta trong nhiều trường hợp phải tìm ra những giải pháp mới. Chúng phải được tìm kiếm trong nỗ lực tôn trọng định luật riêng của từng thực tế và dưới ánh sáng cái nhìn toàn diện của con người – một cái nhìn phản chiếu các khía cạnh khác nhau của con người, như chúng được thấy qua lăng kính tình yêu. Có vậy, ta mới khám phá ra những tương đồng đặc thù và những khả thể giải quyết cụ thể, mà không bỏ sót bất cứ một thành tố nền tảng nào của cuộc sống con người. 

Phẩm giá con người và các yêu sách công lí đòi buộc – đặc biệt là ngày hôm nay – các quyết định kinh tế không được làm tăng sự chênh lệch giàu nghèo một cách quá lạm và vô lí về mặt đạo đức[83] và phải đưa lên hàng ưu tiên việc tạo công ăn việc làm cho mọi người và giúp họ giữ được việc làm đó. Mà đó cũng là điều „lí trí kinh tế“ đòi hỏi. Việc gia tăng có hệ thống sự bất bình đẳng giữa các nhóm xã hội trong một quốc gia và giữa các dân tộc trong nhiều quốc gia cũng như sự tăng trưởng ào ạt nạn bần cùng tương đối trong xã hội không những có cơ nguy phá vỡ đoàn kết xã hội, mà còn đe doạ nền dân chủ. Chúng cũng mang lại kết quả tiêu cực cả cho bình diện kinh tế: dần dần xói mòn đi „tư bản xã hội“ cũng như phá vỡ mất toàn bộ tương giao vô cùng cần thiết cho sự chung sống của người dân, những tương giao được đặt nền trên niềm tin, lòng cậy và trên sự tôn trọng luật lệ. 

Ngoài ra, khoa kinh tế còn cho chúng ta hay, một tình trạng bất an mang tính cơ cấu sẽ đưa tới những lối hành xử gây đình trệ cho sản xuất và tạo lãng phí tài nguyên nhân sự, khi người làm công thay vì phát huy sáng kiến trong công việc thì lại thả mặc theo vận hành của máy móc. Cả ở điểm này nữa cũng có sự tương ứng giữa khoa kinh tế và sự đánh giá đạo đức. Thiệt hại kinh tế cũng là thiệt hại nhân sự, và những rối loạn kinh tế cũng luôn luôn kéo theo cái giá phải trả về nhân sự. 

Hơn nữa, phải nhớ rằng, việc giản lược các văn hoá xuống hàng kĩ thuật, cho dù đó chỉ có tính cách giai đoạn để tăng lợi nhuận, về lâu về dài sẽ ngăn cản tiến trình phong phú hoá hỗ tương giữa các văn hoá và làm mất đi động cơ hợp tác. Điều quan trọng là cần phải phân biệt đâu là những toan tính kinh tế hay xã hội ngắn hạn và đâu là những mục tiêu dài hạn. Giảm thiểu mức độ bảo hộ lao động về mặt luật pháp hay từ chối chia phần lợi nhuận cho công nhân với lí do để nhà nước có thể cạnh tranh tốt hơn với quốc tế sẽ cản trở công cuộc phát triển đường dài của đất nước. Vì thế, phải tính cho thật kĩ hậu quả của những chính sách kinh tế có chiều hướng ngắn hạn, có khi vô cùng ngắn hạn hiện nay. Về điểm này, đòi hỏi chúng ta phải „có một tư duy mới và rốt ráo về í nghĩa và mục tiêu của kinh tế“[84] cũng như phải rà soát lại thật kĩ và với viễn kiến mô hình phát triển hiện nay, hầu điều chỉnh những sai sót và dị dạng của nó. Đây cũng là một yêu sách phải giải quyết vì sức khoẻ môi sinh của địa cầu; và nhất là đó cũng là một bài toán cấp thiết phải giải đáp xuất phát từ cuộc khủng hoảng văn hoá và đạo đức của con người mà từ lâu nay ta đã thấy được triệu chứng của nó xuất hiện trên mọi miền thế giới. 

33. Thông điệp Populorum progressio đã qua hơn bốn mươi năm rồi. Nhưng chủ đề nền tảng của nó – vấn đề phát triển – trước sau vẫn là một bài toán chưa có lời giải. Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chánh hiện nay đang làm cho bài toán thêm gia trọng và càng lúc càng đòi buộc ta phải gấp rút giải quyết. Trong lúc một số vùng thế giới đã thoát ra được sự bần cùng, đã đạt được những tăng trưởng kinh tế to lớn và có thể nhập vào dòng sản xuất của thế giới, thì những vùng khác lại đang phải chịu đựng một tình trạng bần cùng ngang hàng hoặc còn tệ hơn thời của giáo chủ Phaolô VI. Một số nguyên nhân của tình trạng đó rõ ràng đã được nói tới trong Populorum progressio, chẳng hạn như việc các nước giàu đặt ra mức thuế quan quá cao khiến cho sản phẩm của các nước nghèo không chen chân vào được thị trường của nước giàu. Trái lại, các nguyên do khác, những thứ chỉ được Thông điệp đề cập sơ qua, giờ đây lại nổi cộm lên. Cụ thể là việc đánh giá tiến trình giải thực, một tiến trình đang diễn ra mạnh mẽ dưới thời giáo chủ Phaolô VI. Giáo chủ Phaolô VI ước mong có được một tiến trình độc lập diễn ra trong hoà bình và tự do. Sau hơn bốn mươi năm, chúng ta phải thú nhận rằng, tiến trình đó quả là một bước đi đầy khó khăn, phần vì sự xuất hiện các hình thái thực dân và lệ thuộc mới vào các nước bá quyền cũ và mới, phần vì hành vi vô trách nhiệm gia trọng của tầng lớp lãnh đạo trong chính các nước mới dành độc lập. 

Cái mới chủ yếu nhất ngày nay là sự bùng vỡ mối liên thuộc giữa các quốc gia, biểu hiện dưới cái tên „toàn cầu hoá“. Giáo chủ Phaolô VI thời đó đã phần nào nhìn ra, nhưng đã không mường tượng được mức độ phát triển vũ bão của nó. Xuất phát từ các quốc gia phát triển kinh tế, tiến trình này, đúng theo bản chất của nó, đã kéo theo mọi nền kinh tế vào cuộc. Toàn cầu hoá quả là một cơ may lớn và là lực đẩy chính kéo một số vùng thoát ra khỏi nghèo đói. Nhưng nếu không được dẫn dắt bởi tình yêu trong chân lí, lực đẩy đó có thể sẽ tạo ra thiệt hại vô lường với nguy cơ làm phân rẽ gia đình nhân loại. Vì thế, tình yêu và sự thật đặt chúng ta trước một cuộc dấn thân hoàn toàn mới với đầy sáng tạo, cuộc dấn thân chắc chắn sẽ bao quát nhưng phức tạp. Điều này đòi hỏi chúng ta phải mở rộng lí trí, để có thể nhận ra và điều hướng những động năng mới và lạ lùng kia, bằng cách đổ hồn „văn hoá tình yêu“ cho chúng, nền văn hoà mà Thiên Chúa đã đặt sẵn những hạt giống nơi mỗi dân tộc và văn hoá của họ.

-------------------------------

[55] Xem Thông điệp Sollicitudo rei socialis, 28: sđd., 548-550. 
[56] Phaolô VI., Thông điệp Populorum progressio, 9: sđd., 261-262. 
[57] Xem Thông điệp Sollicitudo rei socialis, 20: sđd., 536-537. 
[58] Xem Thông điệp Centesimus annus, 22-29: sđd., 819-830. 
[59] Xem số 23.33: sđd., 268-269.273-274. 
[60] Xem sđd., 135 
[61] Công đồng Vaticano II, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nayGaudium et spes, 63 
[62] Xem Gioan Phaolô II., Thông điệp Centesimus annus, 24: sđd., 821-822. 
[63] Xem như trên, Tông thư Veritatis splendor (06/08/1993), 33.46.51: AAS 85 (1993), 1160.1169-1171.1174-1175; cùng tác giả, Diễn văn trước Đại hội đồng liên hiệp quốc nhân dịp 50 năm thành lập (05.10.1995); 3: Insegnamenti XVIII, 2 (1995), 732-733. 
[64] Xem Thông điệp Populorum progressio, 47: sđd., 280-281; Gioan Phaolô II., Thông điệp Sollicitudo rei socialis, 42: sđd., 572-574. 
[65] Xem Biển-đức XVI., Sứ điệp Ngày lương thực thế giới 2007: AAS 99 (2007), 933-935. 
[66] Xem Gioan Phaolô II., Thông điệp Evangelium vitae, 18.59.63.64: sđd., 419-421.467-468.472-475. 
[67] Xem Biển-đức XVI., Sứ điệp Ngày hoà bình thế giới 2007, 5: Insegnamenti, II, 2 (2006), 778. 
[68] Xem Gioan Phaolô II., Sứ điệp Ngày hoà bình thế giới 2002, 4-7.12-15: AAS 94 (2002), 134-136.138-140; cùng tác giả, Sứ điệp Ngày hoà bình thế giới 2004, 8: AAS 96 (2004), 119; cùng tác giả, Sứ điệp Ngày hoà bình thế giới 2005, 4: AAS 97 (2005), 177-178; Biển-đức XVI., Sứ điệp Ngày hoà bình thế giới 2006, 9-10: AAS 98 (2006), 60-61; cùng tác giả, Sứ điệp Ngày hoà bình thế giới 2007, 5.14: sđd., 778.782-783. 
[69] Xem Gioan Phaolô II., Sứ điệp Ngày hoà bình thế giới 2002, 6: sđd., 135; Biển-đức XVI., Sứ điệp Ngày hoà bình thế giới 2006, 9-10: sđd., 60-61. 
[70] Xem Biển-đức XVI., Bài giảng trong thánh lễ ở „Islinger Feld“ tại Regensburg (12.09.2006): Insegnamenti II, 2 (2006), 252-256. 
[71] Xem cùng tác giả, Tông thư Deus caritas est, 1: sđd., 217-218. 
[72] Gioan Phaolô II., Thông điệp Sollicitudo rei socialis, 28: sđd., 548-550. 
[73] Phaolô VI., Thông điệp Populorum progressio, 19: sđd., 266-267. 
[74] Như trên, 39: sđd., 276-277. 
[75] Như trên, 75: sđd., 293-294. 
[76] Xem Biển-đức XVI., Tông thư Deus caritas est, 28: sđd., 238-240. 
[77] Gioan Phaolô II., Thông điệp Centesimus annus, 59: sđd., 864. 
[78] Xem Thông điệp Populorum progressio, 40.85: sđd., 277.298-299. 
[79] Như trên, 13: sđd., 263-264. 
[80] Xem Gioan Phaolô II., Tông thư Fides et ratio (14.09.1998), 85: AAS 91 (1999), 72-73. 
[81] Xem như trên, 83: sđd., 70-71. 
[82] Biển-đức XVI., Bài thuyết trình ở đại học Regensburg (12.09.2006): Insegnamenti II, 2 (2006), 265. 
[83] Xem Phaolô VI., Thông điệp Populorum progressio, 33, sđd., 273-274. 
[84] Gioan Phaolô II., Sứ điệp Ngày hoà bình thế giới 2000, 15: AAS 92 (2000), 366

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét