1.1-
Quá trình hình thành phức tạp và phong phú
Quyển sách
này được trình bày theo cách tiếp cận mới: đặt Giáo huấn xã hội trong
toàn bộ giáo huấn của Giáo Hội từ khởi thủy cho đến hiện đại. Đây là một tiến
trình phát triển qua nhiều kinh nghiệm sống và nhiều nỗ lực suy tư lâu dài và
cẩn trọng, nhưng phát triển liên tục, phù hợp với môi trường xã hội. Hội đồng Tòa Thánh
Công lý và Hòa bình công nhận Giáo huấn xã hội Công giáo có một quá trình hình
thành lâu dài, phức tạp và rất phong phú: “Ngay từ ban đầu, Giáo huấn xã hội
không được dự tính như một hệ thống hữu cơ, mà được hình thành theo dòng thời
gian, qua nhiều lần can thiệp của Huấn quyền về vấn đề xã hội. Quá trình hình
thành này giúp chúng ta hiểu rằng có thể đã có một vài thay đổi liên quan tới
bản chất, phương pháp và cơ cấu nhận thức của học thuyết xã hội”[1].
Tiếp nối
truyền thống sinh động của Giáo Hội, Đức Giáo chủ Biển Đức XVI tái xác quyết
trong thông điệp “Tình yêu trong chân lý” (Caritas in veritate)[2] như sau: “Giáo huấn xã hội của Giáo Hội luôn soi sáng
các vấn đề mới mẻ, bằng một ánh sáng bất biến. Điều đó bảo đảm đặc tính vừa bất
biến vừa lịch sử của “gia sản” học thuyết, với những điểm đặc thù, thuộc về
Truyền thống luôn sống động của Giáo Hội. Giáo huấn xã hội xây dựng trên nền
tảng do các Tông đồ chuyển đạt cho các Giáo phụ, rồi được các tiến sỹ hàng đầu
của Kitô giáo đón nhận và đào sâu. Giáo huấn này hướng đến Con Người mới, đến “Ađam
cuối cùng, thần khí ban sự sống” (1Cr 15,45), nguyên lý của đức mến “không
bao giờ mất được” (1Cor 13,8). Giáo huấn này được chứng thực bởi các
Thánh nhân và bởi biết bao người đã hiến dâng cuộc đời cho Đức Kitô, Đấng Cứu
độ, trong lãnh vực công lý và hòa bình. Giáo huấn này trình bày vai trò ngôn sứ
của các Đức Giáo chủ: Hướng dẫn Giáo Hội của Đức Kitô theo cách thức tông đồ và
phân biện những yêu sách mới trong công tác loan báo Tin Mừng”[3].
Tuy nhiên,
đứng trên phương diện nghiên cứu lịch sử, các chuyên gia về tư tưởng xã hội
Công giáo vẫn coi thông điệp “Tân sự” (Rerum novarum), công
bố ngày 15-5-1891, là một văn kiện lịch sử, đánh dấu biến cố chính thức khai
sinh Giáo huấn xã hội của Giáo Hội. Đây là một bước ngoặt quan
trọng trong tư tưởng xã hội của Kitô giáo. Thật vậy, lần đầu tiên trong lịch sử
Kitô giáo, một văn kiện chính thức của Huấn quyền trình bày quan niệm tổng quát
của Giáo Hội về vấn đề xã hội và đồng thời đề nghị những nguyên tắc căn bản để
hướng dẫn cuộc sống, cũng như để tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho các vấn
đề xã hội nóng bỏng của thời đại.
Trong lời
mở đầu thông điệp “Quan tâm tới vấn đề xã hội”, Đức Gioan Phaolô II cho
chúng ta thấy: “Bằng nhiều cách thế khác nhau, Giáo Hội vẫn luôn bày tỏ mối
quan tâm của mình đối với vấn đề xã hội, nghĩa là đối với những gì hướng tới sự
phát triển đích thực của con người và của xã hội, nhằm tôn trọng và thăng tiến
con người trong mọi chiều kích. Một trong những hình thức can thiệp đặc biệt
trong thời gian gần đây là bằng Huấn quyền của các Đức Giáo chủ Roma (…). Qua
những can thiệp đó, các Đức Giáo chủ đã làm nổi bật những khía cạnh mới mẻ của
Giáo huấn xã hội của Giáo Hội. Như vậy, khởi đi từ sự đóng góp quý giá của Đức
Leô XIII, được phong phú hóa bởi các đóng góp kế tiếp của Huấn quyền, đã hình
thành một “học thuyết” được canh tân và ăn khớp với nhau theo tiến trình giải
thích của Giáo Hội về các biến cố lịch sử, dưới ánh sáng của toàn bộ Lời Chúa
được Đức Kitô mạc khải và với sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Bằng đường lối
này, Giáo Hội tìm cách hướng dẫn con người để họ trả lời cho ơn gọi xây dựng xã
hội trần thế như những người có trách nhiệm, dựa vào lý trí và khoa học nhân
văn”[4].
1.2-
Một cách thế sống và loan báo Tin Mừng
Khi nghiên
cứu nguồn gốc Giáo huấn xã hội của Giáo Hội, chúng ta sẽ thấy giáo huấn này bắt
nguồn từ Kinh Thánh, liên hệ mật thiết đến niềm tin và những hình thức sống đạo
của các thế hệ Kitô hữu suốt hơn hai ngàn năm lịch sử. Đúng như Giáo chủ Gioan
Phaolô II đã xác định một cách sâu sắc, Giáo huấn xã hội của Giáo Hội không
phải là một hệ thống chính trị, xã hội hay kinh tế, và chẳng bao giờ nuôi tham
vọng trở thành “con đường thứ ba” giữa chủ nghĩa tư bản và chủ
nghĩa xã hội. Đúng hơn, nó là một hình thức sống Tin Mừng, một cách thế vận
dụng thần học, đặc biệt thần học luân lý, vào các vấn đề đạo đức – xã hội của
thời đại. Chính vì vậy, nó bắt nguồn từ Lời Chúa và tiếp nhận nhiều đóng góp
quý báu của các thánh Giáo phụ, các thánh Tiến sĩ Hội Thánh, các hàng Giáo
phẩm, cũng như của rất nhiều thần học gia và tư tưởng gia Công giáo khác.
Đối với
mọi Kitô hữu, Lời Chúa không những là “linh hồn của khoa thần học”, mà còn là
tiêu chuẩn và định hướng của tất cả cuộc sống Kitô hữu, cá nhân cũng như tập
thể. Dĩ nhiên, Kinh Thánh không phải là một quyển giáo lý xã hội theo nghĩa
chặt và không trình bày một hệ thống luân lý chính trị hay một mô hình xã hội
rõ rệt. Trong Kinh Thánh, không hề có một luận điểm đồng nhất hay hệ thống hóa
về thực tại xã hội, mà chỉ tìm thấy nhiều cái nhìn khác nhau về cùng một thực
tại trần thế. Tuy nhiên, toàn bộ Kinh Thánh chứa đựng một số nguyên lý đạo đức
và định hướng tinh thần để hướng dẫn sinh hoạt của mọi tín hữu trong xã hội
trần thế. Mặt khác, Kinh Thánh cũng chẳng bao giờ xác định cách cụ thể phải tổ
chức xã hội như thế nào, nhưng Kinh Thánh cống hiến cho các cộng đồng tín hữu
một số tiêu chuẩn và những chân trời lý tưởng để cố gắng bước tới, bất chấp
những giới hạn, khiếm khuyết và lầm lỗi tất nhiên của phận người.
Như chúng
tôi sẽ trình bày trong các chương kế tiếp, Giáo huấn xã hội của Giáo Hội vừa
bắt nguồn từ Kinh Thánh, vừa tích lũy những suy tư và kinh nghiệm của Giáo Hội
suốt dọc lịch sử, vừa trung thành với sứ vụ muôn thuở của Kitô giáo, vừa thích
nghi và đổi mới không ngừng để trả lời cho những thách đố của mỗi thời đại. Hơn
nửa thế kỷ vừa qua, Giáo huấn xã hội của Giáo Hội đã chứng tỏ cho mọi người
thấy rằng ước muốn đọc những dấu chỉ thời đại dưới ánh sáng của Tin Mừng và
quyết tâm đối thoại với nhân loại hôm nay là một trong những mục tiêu của Giáo Hội
trong thời hiện đại[5].
Theo một
số chuyên gia, nét độc đáo của Giáo huấn xã hội của Giáo Hội nằm ở tính chất
vừa đặc thù, vừa đa dạng và khác biệt, nhưng lại bổ sung và phong phú hóa cho
nhau. Hầu như chúng ta luôn luôn bắt gặp hai mặt của cùng một sứ vụ muôn thưở.
Đó là trách nhiệm rao giảng Tin Mừng vĩnh hằng cho muôn dân; mặt khác, đòi hỏi
phải không ngừng thích nghi và hội nhập sứ điệp Tin Mừng này vào mỗi môi trường
văn hóa, điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị của mỗi thời đại. Đây là hai đòi
hỏi căn bản, vừa dằng co và đối lập, vừa bổ khuyết và phong phú hóa cho nhau.
Bên cạnh yêu sách thích nghi không ngừng, trong Giáo huấn xã hội của Giáo Hội luôn hiện diện yêu sách trung thành và tiếp nối truyền thống xã hội của
Kitô giáo từ buổi ban sơ cho đến thời hiện đại. Đây là những hình thức thể hiện
nguyên tắc nền tảng của Tin Mừng về tình yêu phổ quát, phẩm giá con người,
huynh đệ đại đồng, thái độ liên đới với những người bị áp bức, hành động bảo vệ
người nghèo, can đảm chống lại bất công, tranh đấu cho công ích, dấn thân xây
dựng một xã hội hòa bình, công bằng và nhân ái hơn... trong điều kiện chính
trị, kinh tế, kỹ thuật luôn biến thiên và khác biệt nhau.
1.3- Phân chia quyển sách
Việc nối
kết giữa truyền thống với đương đại, nguồn gốc sâu thẳm trong Kinh Thánh với
tiến trình hình thành trong lịch sử, nguyên tắc nền tảng với những áp dụng luôn
biến thiên theo dòng đời… đã tạo nên nét tiêu biểu và đặc sắc của Giáo huấn xã
hội. Để có thể đào sâu và khai triển nét đặc thù này, cũng như tính bền vững và
nhất thời của một số quan niệm trong Giáo huấn xã hội của Giáo Hội, chúng
tôi chia quyển sách ra ba phần:
Phần thứ I trình bày nguồn gốc phát sinh, tiến trình hình thành
và khái niệm của Giáo huấn xã hội của Công giáo. Trong phần này, người viết
muốn giới thiệu một cái nhìn tổng quát về tư tưởng xã hội của Kitô giáo: khởi
đi từ quan điểm của các ngôn sứ trong Cựu Ước, giáo huấn của Đức Kitô, kinh nghiệm
sống của cộng đồng Kitô hữu tiên khởi, tiếp đến là quan niệm của các thánh Giáo
phụ và các thánh Tiến sĩ, giáo huấn của hàng Giáo phẩm, cho đến những hành động
dấn thân vào lãnh vực xã hội của một số Kitô hữu ở cuối thế kỷ XIX và cuối
cùng, sự xuất hiện của thông điệp Tân Sự (1891).
Phần thứ II: Giới thiệu những nguyên tắc nền tảng của Giáo huấn xã
hội của Giáo Hội: Phẩm giá con người, nguyên tắc bổ trợ, công thiện công ích,
chiều kích liên đới, vận mệnh phổ quát của tài sản, ưu tiên chọn lựa người
nghèo. Có thể coi đây như những chìa khóa và tiêu chuẩn định hướng của Giáo
huấn xã hội của Giáo Hội. Dựa trên các nguyên tắc này người ta sẽ đánh giá và
phê phán các cơ cấu chính trị, tổ chức xã hội, hệ thống kinh tế, đồng thời
hướng dẫn dân chúng trong mục đích kiếm tìm những cách thế hữu hiệu để xây dựng
một xã hội phát triển, tiến bộ và nhân bản hơn.
Phần thứ III: Trình bày quan điểm của Giáo Hội Công giáo đối với một số
vấn đề tiêu biểu và nóng bỏng trong thế giới hôm nay như: văn hóa, kinh tế,
chính trị, xã hội, giá trị lao động, toàn cầu hóa, truyền thông xã hội, môi
trường, tương quan quốc tế, chiến tranh hòa bình… Trên nguyên tắc, bảng danh
sách các đề mục còn nhiều hơn nữa, nhưng vì giới hạn của một quyển sách nên chỉ
xin đưa ra một số vấn đề chính thôi.
Vì mang
đậm dấu ấn xã hội, Giáo huấn xã hội không phải là một bộ luật chi tiết và cố
định về cuộc sống xã hội, mà chỉ là những nguyên tắc định hướng tổng quát, đầy
sáng tạo và năng động. Đọc các bản văn từ thông điệp “Tân sự” (1891) của
Đức Leô XIII cho đến thông điệp “Tình yêu trong chân lý” (2009) của Đức
Biển Đức XVI, chúng ta thấy rõ những cố gắng canh tân liên tục của Giáo Hội để
hiểu rõ hơn thực tại xã hội trong tính đa diện và phức tạp của nó. Mặt khác, nó
cũng là câu trả lời cho những thách đố mà thời đại đã đặt ra, một cách gay gắt
và cấp bách, cho sứ vụ loan báo Tin Mừng. Chính qua tiến trình canh tân và
thích nghi không ngừng này, mà chúng ta gặp thấy một trong những chìa khóa của Giáo huấn xã hội
khi đối diện với những biến đổi của thời đại.
Công đồng
Vatican II đã diễn tả một cách sâu sắc định hướng mới này qua chủ trương nhận
diện các “dấu chỉ thời đại”, để đối thoại và phục vụ nhân loại một
cách hữu hiệu hơn. Nhìn từ viễn cảnh đó, Giáo huấn xã hội không
phải là một ý thức hệ hay một lý thuyết thuần túy và bất di bất dịch, mà là một
thành phần của thần học luân lý, không ngừng đối mặt với những điều kiện lịch
sử cụ thể, để khuyến khích việc phát triển con người toàn diện và thực hiện sứ
vụ loan báo Tin Mừng trong xã hội hôm nay.
[1] Hội đồng Tòa Thánh về Công lý & Hòa bình, Compendio della dottrina sociale della
Chiesa, Lib. Edit.
Vaticana, 2004, số 72. Có người đề nghị dịch là “Tổng lược Học thuyết Xã hội
của Giáo Hội”. Bản
dịch Việt ngữ của Ủy ban Bác ái Xã hội thuộc HĐGM-VN lấy tựa đề “Tóm lược
Học thuyết Xã hội của Giáo Hội Công giáo”, NXB Tôn giáo, 2007. Cũng như
nhiều bản dịch Việt ngữ về các tài liệu khác, chúng tôi sử dụng bản dịch này
với những thay đổi cần thiết dựa trên nguyên bản.
[2] Nếu dịch sát nghĩa phải là “Bác ái
trong chân lý” còn
“Tình yêu trong chân lý” là một cách dịch nhẹ nhàng và thích hợp hơn cho môi trường
Công giáo, cũng như ngoài Công giáo. Chúng tôi theo lối dịch sau cùng này.
Ngoài ra, tại Việt Nam, từ Bênêđictô đã được phiên âm Hán Việt thành Biển Đức,
thiết tưởng cũng nên sử dụng từ Hán Việt này.
[5] Xem Vatican II, Vui mừng và Hy vọng và Thượng Hội đồng Giám mục năm 1985, Bản đúc kết; Hervé Carrier, Học thuyết xã hội Công giáo, bản dịch của Định Hướng, 2000; Alfonso A.
Cuadron (dir.), Manual
de la doctrina social de la Iglesia, Bac, Madrid, 1993; Hội đồng Giáo hoàng về Công lý & Hòa
bình, Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo Hội
Công giáo, NXB,
Tôn giáo, Hà Nội, 2007.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét